Chứng cứ có hỗ trợ AI: cần chứng minh điều gì?
I TÍNH LIÊN QUAN TRƯỚC TIÊN
Việc một tài liệu được tạo hoặc xử lý bằng AI không tự trả lời câu hỏi tài liệu đó có được chấp nhận làm chứng cứ hay không. Trong phạm vi áp dụng của Evidence Act 1995 (Cth), bước đầu tiên là xác định sự kiện đang tranh chấp và giải thích tài liệu có thể ảnh hưởng hợp lý đến việc đánh giá xác suất tồn tại của sự kiện đó như thế nào. Tính liên quan là điểm khởi đầu, không phải sự miễn trừ khỏi các quy tắc loại trừ khác.1
II PHÂN BIỆT ĐẦU RA VÀ Ý KIẾN CHUYÊN MÔN
Tiếp theo cần làm rõ tài liệu đang được dùng để chứng minh điều gì. Nếu một người đưa ra ý kiến nhằm chứng minh sự kiện mà ý kiến đó đề cập, quy tắc về chứng cứ ý kiến có thể được đặt ra. Đổi nhãn tài liệu thành “kết quả thuật toán” không thay thế việc xác định mục đích sử dụng chứng cứ.2
Ngoại lệ ở s 79(1) tập trung vào kiến thức chuyên môn của người đưa ra ý kiến và mối liên hệ giữa kiến thức đó với ý kiến được nêu. Do đó, trong một tình huống giả định, việc chuyên gia chỉ đính kèm điểm số do phần mềm tạo ra sẽ chưa giải thích vì sao nhận định của họ dựa hoàn toàn hoặc phần lớn trên kiến thức từ đào tạo, học tập hoặc kinh nghiệm. Bản báo cáo nên tách dữ liệu đầu vào, phương pháp xử lý, giả định và suy luận của chuyên gia để mối liên hệ này có thể được xem xét.3
III KHÔNG GỘP CÁC PHÉP CÂN NHẮC LOẠI TRỪ
Ngay cả khi đã vượt qua các bước trên, câu hỏi loại trừ vẫn có thể phát sinh. Section 135 cho phép tòa án từ chối chấp nhận chứng cứ khi giá trị chứng minh bị vượt đáng kể bởi nguy cơ gây bất lợi không công bằng, gây nhầm lẫn hoặc làm mất thời gian quá mức. Một biểu đồ có vẻ chính xác có thể đòi hỏi giải thích cẩn trọng, nhưng không vì thế tự động bị loại.4
Không nên diễn đạt s 137 như một bản sao của s 135. Trong tố tụng hình sự, s 137 yêu cầu tòa án từ chối chứng cứ do bên công tố đưa ra nếu giá trị chứng minh bị vượt bởi nguy cơ gây bất lợi không công bằng cho bị cáo. Điều luật sử dụng phép cân nhắc và tính bắt buộc khác với s 135; bản viết cần giữ nguyên sự khác biệt này.5
Cũng cần phân biệt từ chối chứng cứ với giới hạn cách sử dụng chứng cứ theo s 136. Với ví dụ đang xét, kết luận phù hợp là xác định mục đích sử dụng, cơ sở chuyên môn và rủi ro cụ thể trước khi lựa chọn biện pháp tố tụng. Không thể suy từ nhãn “AI” đến một kết luận chung về khả năng chấp nhận.6
- Evidence Act 1995 (Cth) ss 55–56 (‘Evidence Act’). ↩
- Ibid s 76(1). ↩
- Ibid s 79(1). ↩
- Evidence Act (n 1) s 135. ↩
- Ibid s 137. ↩
- Evidence Act (n 1) s 136. ↩
THƯ MỤC TÀI LIỆU
A Văn bản pháp luật
Evidence Act 1995 (Cth)